360

719

/phan-6-cac-chinh-sach-cua-singapore

Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có – giàu có tương đương với mức trung bình của các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD và cao hơn cả Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Italy… sự kiện nóng

Bạn đọc Anh Minh tiếp tục chia sẻ cùng bạn đọc Tuần Việt Nam các chính sách của Singapore trích trong cuốn sách ”Các quốc gia cạnh tranh như thế nào?”, tác giả Richard H. K. Vietor. Mời bạn đọc tiếp tục theo dõi.

Hệ thống chính trị

Dựa trên đánh giá về các viên chức nhà nước, Singapore được điều hành như một doanh nghiệp. Trong khi các quan chức nội các là những chính trị gia, họ có xu hướng là những cá nhân đặc biệt có tài – thường được giáo dục tại nước ngoài về kinh doanh hay kinh tế. Và bản thân các viên chức nhà nước cũng được đào tạo đặc biệt, có chí hướng, tài năng, và được đền đáp thoả đáng.

Singapore được điều hành bởi một hệ thống quốc hội bao gồm 84 thành viên qua bầu cử (9 được bầu cử trực tiếp và 75 được bầu từ những nhóm gồm 4 đến 6 người để đại diện cho 14 khu vực bầu cử và đảm bảo ít nhất có 1 thành viên thuộc nhóm dân tộc thiểu số trong mỗi nhóm).

Quốc đảo Singapore. Ảnh lấy từ Internet.

Cứ năm năm lại tiến hành bầu thành viên quốc hội. Bỏ phiếu là thủ tục bắt buộc trong mỗi cuộc bầu cử. Một tổng thống, được bầu trực tiếp, cùng sự hỗ trợ của quốc hội sẽ chỉ định thủ tướng. Nội các bao gồm 14 đến 16 bộ trưởng, và mỗi bộ có một thư ký thường trực.

Sự đền đáp cho các bộ trưởng có thâm niên rất hậu hĩnh. Lương thủ tướng năm 2000 là hơn 1,1 triệu đôla Mỹ, ngay cả thủ tướng có thâm niên ít nhất cũng nhận được 550 000 đôla Mỹ – nhiều hơn lương tổng thống Mỹ. Chính phủ cho rằng mức lương cao là điều cần thiết để gìn giữ nhân tài. Lý Quang Diệu, cha của thủ tướng Lý hiện thời và là thủ tướng đầu tiên đã ủng hộ điều này, ông phát biểu “hãy xem tỉ lệ mà chúng ta đổi lại”.

Còn ông Goh Chok Tong thì lí luận thêm, “Những nguy hại mà chúng ta đã ngăn chặn được không xảy ra cho nền kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á thừa đủ để trả cho các bộ trưởng và quan chức thuộc các phòng ban của chính phủ trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị của họ, và thực tế, chúng ta có thể chi trả trong nhiều đời.”

Biểu lương của chính phủ được xây dựng dựa trên một công thức cẩn thận. Những bộ trưởng mới nhậm chức hay những thư kí cao cấp thường trực nhận 60% mức lương trung bình của top 8 người thuộc 6 ngành nghề có thu nhập cao nhất, bao gồm từ ông chủ các nhà băng cho tới chủ tịch các công ty đa quốc gia.

Và giống như những tập đoàn lớn, mức thưởng cho các nhân viên cấp cáo và ngân sách dành cho các phòng ban phụ thuộc rất nhiều vào mức tăng trưởng GDP. “Chúng tôi là chính phủ 100%, nhưng nếu theo các quy tắc hoạt động thì chúng tôi vận hành giống như công ty tư nhân”, một giám đốc cấp cao của EDB giải thích. Vì thế năm 1992, với sự suy thoái của nền kinh tế, các bộ trưởng cao cấp cũng phải chịu giảm lương theo mức tương ứng.

Thêm một cách thức nữa được vận dụng từ các công ty là thường xuyên hoán đổi công việc. Có nghĩa là, sau vài năm, các quan chức cấp cao sẽ phải thuyên chuyển công việc, từ Quỹ Tiết kiệm trung ương, sang lĩnh vực quốc phòng, thương mại, tới lao động. Mặc dù điều này có thể dẫn tới việc một vài người thiếu kinh nghiệm có thể đứng đầu một bộ nào đó, nhưng lợi ích mà nó mang lại là rất to lớn.

Mọi người đều biết lẫn nhau và hiểu biết tương đối tốt về các vấn đề và chiến lược lớn. Như bộ trưởng bộ công nghệ thông tin và nghệ thuật nhận định, “Khởi đầu đây là thách thức, nhưng nó làm cho tầm nhìn của chúng tôi luôn tươi mới và xây dựng được một chính phủ linh hoạt”.

Có lẽ quan trọng nhất, là không hề có tham nhũng trong số các viên chức nhà nước Singapore. Trong thực tế, rất ít khi có tham nhũng trong mọi lĩnh vực ở Singapore. Chính quyền được ca ngợi vì tính trung thực và minh bạch. Nước này xếp thứ hạng rất cao trên Bảng chỉ số đánh giá tham nhũng của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế.

Ví dụ năm 2004, nước này xếp thứ 5 trong số 145 quốc gia-là nước châu Á duy nhất nằm trong top 15 nước tốt nhất. Đầu năm 1952, chính phủ đã thành lập Uỷ Ban Điều tra thực hành chống tham nhũng-một tổ chức độc lập nhằm thực thi luật chống tham nhũng. Bất kì cá nhân nào bị buộc tội tham nhũng có thể bị tống giam tới 5 năm tù hay phạt 100.000 đô la hoặc cả hai hình thức.

Từ chiến dịch chống nhổ nước bọt bừa bãi tới cấm nhai kẹo cao su, Singapore bị những người chỉ trích coi là “quốc gia vú em”. Nhưng ông Lý Quang Diệu tin rằng cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ môi trường xã hội và tự nhiên đối với một đảo quốc nhỏ bé như Singapore. Ví dụ, Singapore đã phát động một phong trào “xanh và sạch” nhằm làm đẹp khu vực xung quanh.

Hàng triệu cây đã được trồng mới bởi tất cả người dân bao gồm cả bộ trưởng nội các và thủ tướng trong mỗi ngày Trồng Cây Quốc Gia. Sông Singapore, một thời từng là nguồn ô nhiễm, nay đã được làm sạch tới mức có thể bơi và câu cá được. Nước đọng được thông dòng giảm thiểu được các loài sâu bọ và y tế công cộng được đẩy mạnh.

Việc định giá ô tô và thuế làm chính phủ có thể kiểm soát được vì các mục đích xã hội. Nhiều loại thuế khiến cho giá ô tô nhập khẩu luôn ở mức đắt đỏ và vì thế hạn chế được số lượng ô tô lưu thông trên đường. Hơn thế nữa, người Singapore còn phải đấu giá để có được số lượng giấy phép lưu hành xe có hạn.

Vì thế, với một chiếc xe có giá 50, 000 đô là Mỹ, thuế có thể lên tới 20,000 và phí đăng kí thêm 30 000 đô la nữa. Và để kiểm soát giao thông trong nội thị, một hệ thống cảnh sát điện tử được trả lương cao hơn vào giờ cao điểm để kiểm soát tình hình tắc nghẽn giao thông. Tất nhiên, với phần đông người Singapore đi lại bằng phương tiện công cộng vẫn là cách thức phổ biến.

Có lẽ ví dụ tiêu biểu nhất của “quốc gia vú em” là trường hợp của Michael Fay, một công dân Mỹ 18 tuổi bị buộc tội phá hoại di sản (phun sơn lên ô tô) vào năm 1994. Chính quyền Singapore đã tuyên án cậu phải chịu sáu roi phạt.

Khi Tổng Thống Clinton xin khoan hồng cho cậu, Singapore đã miễn cưỡng giảm án phạt xuống còn 4 roi. “Những người Singapore”, một nhà báo của tờ Straits Times bình luận “dường như sẵn sang hy sinh tự do công dân để đổi lấy lợi ích thực tế của một xã hội phát triển và có trật tự”.

Người dân Singapore nói bốn thứ tiếng-Tiếng Anh, tiếng Quan Thoại, tiếng Malay hay Hindi. Thật thú vị vì vào năm 1979, Lý Quang Diệu đã cho rằng rằng thị hiếu của giới trẻ Singapore hiện đã trở nên tây hoá từ các trò chơi, âm nhạc cho tới phim ảnh. Ông thậm chí đã gọi hệ thống giáo dục theo kiểu Anh là không chú trọng tới bản sắc.

Vì thế ông đã yêu cầu chuyển ngôn ngữ bắt buộc trong các trường học ở Singapore sang tiếng Quan Thoại, khiến người Ấn Độ và người Malai không hài lòng. Ông Lý đã hy vọng rằng chủ nghĩa cá nhân sẽ không được nhấn mạnh, trong khi ấy tư tưởng Khổng giáo tập trung vào tinh thần quốc gia sẽ trở nên thống trị. Ngày nay, trẻ em Singapore có thể chọn trường có chương trình học bằng tiếng Quan thoại, Mã Lai, Hinđi hay Tiếng Anh, nhưng Anh ngữ ít nhất là ngôn ngữ thứ hai.

Chính sách tài chính và tiền tệ

Chính sách này sẽ không thể hoàn hảo nếu không có sự quản lí kinh tế vĩ mô hiệu quả. Các chính sách tài chính và tiền tệ của Singapore có sức minh chứng rất lớn. Kể từ năm 1979, chính quyền trung ương nhìn chung được vận hành theo một ngân sách cân bằng, chỉ đôi khi rơi vào thâm hụt và tác dụng kích thích thật sự là rất cần thiết.

Mặc dù có mức thuế thấp, chi tiêu phi vốn cũng được tối thiểu hoá. Chi tiêu cho đầu tư của chính phủ được tài trợ phần lớn bởi các trái phiếu do Quỹ Tiết kiệm Trung Ương mua. Ví dụ vào những năm 1980, chính phủ thường xuyên duy trì mức thặng dư lên tới 20 % ngân sách (25% chi tiêu). Chỉ trong năm 2001, khi đang suy thoái nghiêm trọng, chính phủ mới phải cắt giảm thuế và chịu mức thâm hụt 2.7 tỷ đô la ( vào khoảng 9% chi tiêu hay 1.7% GDP).

Trong khi đó, chính sách tiền tệ được kiểm soát bởi Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), đóng vai trò như một ngân hàng trung ương có quyền kiểm soát các quy định của ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và tỉ giá hối đoái. Thông qua một cơ chế tâp trung tỉ giá, MAS duy trì tỉ lệ lạm phát thấp và giữ tỉ lệ lãi suất ở mức trung bình so với tỉ lệ của nước ngoài. MAS đã cố định tỉ giá hối đoái định lượng thương mại trong một rổ tiện tệ.

Từ đầu những năm 1970, dần dần tăng giá theo đồng đô la Mỹ, từ mức 3.06 lên tới 1.41 vào năm 1996, trước khi lại sụt giá (hiện tại ở mức 1.63 đô la Sing ăn một đô la Mỹ). Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai (1979-1980), tỉ lệ lạm phát được giữ thấp hơn mức 3.4 % và thường dao động trong khoảng 1.5-2%. Tỉ lệ cho vay thường xuyên thấp hơn 7% sau năm 1990-và gần đây thấp hơn nữa, còn 4 %.

Chính sách công nghiệp

Chính sách công nghiệp của Singapore nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài từ châu Âu và Mỹ (và cả Nhật Bản) để xây dựng những cơ sở lắp ráp, đóng tàu, hoá dầu trên “hòn đảo cấp 1” của họ. Chính sách này đã tỏ ra rất tốt cho tới đầu những năm 1980 sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai, khi các quốc gia châu Á khác, với mức lương thấp hơn (như Malaysia, Thái Lan, và Trung Quốc) bắt đầu nổi lên như những đối thủ cạnh tranh mới.

Không những hạ thấp mức lương, chính quyền của thủ tướng Lý quyết định đẩy mức lương cao hơn, với hy vọng rằng một chính sách như vậy sẽ buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải tăng thêm giá trị gia tăng trong các hoạt động của họ, đầu tư thêm công nghệ và vốn cho các nhà máy ở Singapore. “Chiến lược của chúng tôi”, ông Goh Chok Tong phát biểu trong cuộc gặp với bộ trưởng bộ thương mại và đầu tư, là “thúc đẩy các doanh nhân và các nhà quản lí vốn đẩy mạnh hiệu quả sản xuất bằng việc tái cơ cấu, tự động hoá và hợp lí hoá. Chúng tôi cũng khuyến khích họ nâng đầu tư vào các ngành công nghệ cao hơn sản xuất ra các sản phẩm có nhiều giá trị gia tăng hơn.”

Mặc dù chính sách này tỏ ra có hiệu quả trong một vài năm, nhưng nền kinh tế của Singapore vẫn rơi vào thời kì suy thoái sâu sắc năm 1985. Tỉ lệ thất nghiệp tăng cao và đầu tư cho sản xuất giảm đột ngột. Một lực lượng đặc biệt được thành lập, đứng đầu bởi con trai của thủ tướng Lý, ông Lý Hiển Long (người trở thành thủ tướng năm 2004).

Uỷ ban này đã nhận thấy rằng chính sách lương hiện tại là quá tham vọng do năng suất lao động không thể bắt kịp. Đồng thời chính phủ đã có những can thiệp quá mức. Uỷ ban đã khuyến nghị chính phủ cần ít can thiệp hơn vào nền kinh tế, chính sách lương linh hoạt hơn và giảm bớt tỉ lệ tiết kiệm bắt buộc. Những kiến nghị này, được thực hiện tức thời đã giúp thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế vào năm 1986 và mức tăng trưởng hàng năm đạt 7.8% trong năm năm kế tiếp.

Có hai điều rất thú vị trong giai đoạn này. Thứ nhất, các chuyên gia về kĩ thuật cai trị Singapore đã có thể nghiên cứu vấn đề, thực hiện hành động và phục hồi. Rất ít quốc gia có khả năng thực hiện các biện pháp phục hồi nhanh chóng và hiệu quả như vậy. Bài học thứ hai là thách thức của mức lương thấp.

Với việc mở cửa của Trung Quốc, rõ ràng điều này sẽ xảy ra. Vì thế, Singapore phải thay đổi chiến lược của mình, tìm cách liên tục gia tăng giá trị thặng dư cho nền kinh tế và bản thân nước này trở thành một nhà đầu tư nước ngoài vào những quốc gia có mức lương thấp hơn.

Singapore đã nhanh chóng trở thành nước có tiềm lực mạnh về thương mại. Đầu những năm 1990, khối lượng thương mại đã tăng hai rồi ba lần so với mức GDP-tỉ lệ cao nhất trên thế giới. Uỷ ban phát triển thương mại sau này được đổi tên là Thương nghiệp quốc tế Singapore đã thiết lập TradeNet-hệ thống xử lí thương mại điện tử đầu tiên, làm tăng đáng kể tính hiệu quả và thời gian luân chuyển cho các doanh nghiệp đầu tư.

Vào năm 2001, tổng kim ngạch thương mại của Singapore là 277% GDP. Mặc dù đất nước bị thâm hụt trong một thời gian dài, giá trị của tài khoản vãng lai đã đạt giá trị dương vào năm 1988 khi thương mại dịch vụ của Singapore vượt quá mức thâm hụt của hàng hoá. Nhưng sau đó cán cân hàng hoá đã đạt mức dương vào năm 1994 và kể từ đó, liên tục tăng trưởng.

Vào năm 2004, cán cân thương mại hàng hoá của Singapore đạt thặng dư 32 tỷ đô là Mỹ, cán cân dịch vụ là 8.5 tỷ và thu nhập là 8.9 tỷ. Tổng cộng đã tạo nên mức thặng dư cho tài khoản vãng lai là 28.8 tỷ đô là Mỹ, chiếm 30% GDP…mức cao nhất trên thế giới.

Thu nhập ròng có lẽ là con số đáng kể nhất trong bảng cân đối thanh toán của Singapore. Thu nhập ròng là đại diện cho tiền lãi và cổ tức mà Singapore trả cho tất cả nguồn đầu tư nước ngoài vào Singapore trừ đi những khoản mà nước này thu được từ đầu tư ra nước ngoài.

Như minh hoạ trong bảng 3.2, con số này là âm trong một khoảng thời gian dài đã chuyển sang giá trị dương từ năm 1985 tới tận năm 2002. Con số này cho thấy tỉ lệ tiết kiệm và đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng của Singapore.

Có nghĩa là, ngày càng có đông người Singapore tiết kiệm nhiều hơn những gì họ đã đầu tư trong nước, sử dụng tiền chênh lệch để đầu tư ra nước ngoài. Một cách khác nữa là họ đầu tư một phần lớn vào thặng dư tài khoản vãng lai ở nước ngoài (trong khi vẫn giữ một tỉ lệ nhất định như tài sản dự trữ).

Chúng ta có thể nhận thấy điều này trên tài khoản vốn. Đầu tư trực tiếp tăng mạnh lên tới 6.4 tỷ đô là trong khi đầu tư chứng khoán và các loại đầu tư khác (như trái phiếu chính phủ) lại ở mức âm. Điều này thêm một lần nữa cho thấy người Singapore đang tiết kiệm nhiều hơn mức cần thiết và mua sắm nhiều hơn, chủ yếu là các tài sản tài chính nước ngoài.

Tăng trưởng trở lại

Đối mặt với sự đình trệ liên tục trong phát triển kinh tế, sự cạnh tranh với lao động giá rẻ của Trung Quốc, đồng thời phải đấu tranh với sự sụt giảm năng suất, chính phủ Singapore lại tiếp tục thay đổi chiến lược một lần nữa. Những nỗ lực này, có thể kéo dài tới vài năm, đã tạo ra những thay đổi kinh tế vi mô, thay đổi thể chế và một cú đột phá kinh tế vĩ mô.

Ủy ban Phát triển kinh tế (gọi tắt là EDB) sẽ chịu trách nhiệm lãnh đạo ở mức độ kinh tế vi mô. EDB tuyên bố: “ Ủy ban sẽ nỗ lực để khẳng định hơn nữa rằng Singapore là một tâm điểm thu hút kinh doanh và đầu tư. Điểm mấu chốt trong phương pháp của chúng tôi dựa vào việc xây dựng một “môi trường sinh thái” của các doanh nghiệp – một môi trường hoàn hảo nơi nối kết được các doanh nghiệp, lớn và nhỏ, trong nước và nước ngoài, cùng cố gắng liên kết và cộng sinh”.

Chiến lược này sẽ tạo ra một biện pháp đôi: (1) tiếp tục tập trung vào các nhóm ngành vốn đã mạnh sẵn của Singapore như ngành hóa học, điện tử, công nghệ thiết kế chính xác, dịch vụ vận chuyển và logistics, và giao tiếp thông tin; và (2) khuyến khích cải tiến kỹ thuật và tinh thần doanh nhân trong các lĩnh vực này.

Ông Chua Taik Him, trợ lý giám đốc điều hành của EDB nói: “Chúng tôi muốn khuyến khích cải tiến kỹ thuật và tinh thần doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế. Và chúng tôi sẽ thực hiện điều này bằng cách đầu tư vào nguồn vốn con người, công nghệ, và cơ sở hạ tầng. Không chỉ EDB thực hiện nó, mà toàn Singapore sẽ cùng thực hiện điều đó, bởi vì chúng tôi là một trí tuệ quốc gia.’

Có lẽ ví dụ tốt nhất của việc Singapore tập trung toàn lực vào các nhóm ngành chính là ngành mà họ gọi là “điều vĩ đại tiếp theo” – ngành khoa học y sinh. Nhóm nghành này bao gồm các ngành dược, kỹ nghệ y học, công nghệ sinh học, và ngành chăm sóc sức khỏe.

Như chủ tịch của EDB nói “Ngành công nghệ y sinh là một ngành phù hợp hoàn toàn với Singapore. Đây là một ngành không đòi hỏi có mật độ nhân công và đất đai cao mà yêu cầu có một hệ thống vận hành đáng tin cậy. Ngành này cũng là ngành có mức độ tập trung nguồn vốn trí tuệ cao và vận hành trong một môi trường mà tài sản trí tuệ được bảo vệ đầy đủ. Chúng tôi không có nhiều tài nguyên để đưa vào nền kinh tế, nhưng cái mà chúng tôi có lại chính là trí tuệ”.

Để xây dựng lợi thế cạnh tranh của Singapore về cơ sở hạ tầng, luật sở hữu trí tuệ và hệ thống chăm sóc sức khỏe hạng nhất, chính phủ đã đưa ra một số sáng kiến chuyển đổi Singapore thành một trung tâm y sinh của Châu Á, gọi là Biopolis.

Quốc đảo này đã tích cực tìm kiếm và lôi kéo các công ty dược và y sinh đã có danh tiếng để xây dựng cơ sở sản xuất tại Singapore (và họ cũng hi vọng xây dựng những trung tâm nghiên cứu và phát triển tại đây). EDB nỗ lực để xây dựng một dịch vụ hoàn hảo (1 điểm dừng) cho các nhà đầu tư tiềm tàng.

Chính vì thế, Nhóm Dịch vụ Y tế-Sinh học đã được thành lập nhằm hỗ trợ các công ty lập kế hoạch, đầu tư và tiếp thị các loại thuốc sinh học của họ.

Singapore cũng đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho ngành này tương tự như những gì quốc đảo này đã thực hiện với ngành công nghiệp hóa dầu trước đây. Họ xây dựng một công viên công nghiệp dành cho các công ty y sinh mới thành lập cũng như đã thành lập, bao gồm một khu liên hợp rộng khoảng 7,5 hecta các tòa nhà cao tầng.

Khu công viên này được dành hoàn toàn cho việc sản xuất thuốc sinh học. Được đặt gần trường Đại học Quốc gia Singapore, người ta kỳ vọng rằng khu Biopolis đáp ứng được nhu cầu cư trú và nghiên cứu của 2000 nhà khoa học và các chuyên viên trong ngành (Bản thân trường Đại học Quốc gia cũng góp phần vào đó bằng cách đầu tư và mở rộng các bằng cấp trong lĩnh vực y sinh).

Chính phủ đã xây dựng 7 tòa nhà đầu tiên để thu hút đầu tư hơn nữa từ khu vực tư nhân. Gần đó, một khu vực rộng 160 hecta cũng được xây dựng để đáp ứng nhu cầu sản xuất của các công ty dược phẩm. Năm 2004, họ đã đạt được mục tiêu là thu hút được 15 công ty sản xuất khoa học đời sống lớn toàn cầu tới đầu tư xây dựng và làm việc tại đây.

Trong khi đó, nguồn vốn tài chính, đã được tích lũy cho Quỹ đầu tư khoa học y sinh để hỗ trợ những liên doanh mới. Ông Chua nói “chính phủ đóng vai trò là người điều phối và chuyên gia phân tích cho khối các doanh nghiệp, công ty tư nhân”.

Nguồn vốn trí tuệ cũng trở nên cần thiết khi chiến lược hệ sinh thái doanh nghiệp của Singapore thành công. Hệ thống giáo dục cần phải hỗ trợ được hệ sinh thái đó. Do có quá nhiều người tin là phương pháp học vẹt truyền thống đã cản trở tính sáng tạo và tinh thần doanh nhân đối với học sinh, chính phủ thực hiện tăng cường đầu tư để xúc tiến các phương pháp dạy học mới và khuyến khích sự cải tiến kỹ thuật.

EDB lập kế hoạch để có được khoảng 10 học viện tầm cỡ thế giới ở Singapore vào năm 2008; và cho tới nay, học viện INSEAD, John Hopkins, Wharton và MIT đã xây dựng các liên doanh giáo dục cũng như các khu học tập vệ tinh tại Singapore.

Có lẽ, tâm điểm của cú đột phá y sinh này chính là Trung tâm Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu (gọi tắt là ASTAR). Vốn được thành lập dưới một cái tên khác vào năm 1991, ASTAR đã xây dựng nên những cơ sở kiến thức khoa học của Singapore thông qua một series các kế hoạch 5 năm. Trung tâm này, do ông Philip Yeo lãnh đạo từ năm 2001, đã lập kế hoạch lần thứ 3 (2001-2005) với vốn ngân sách là 7 tỷ đô la.

Tổ chức này có 4 bộ phận: Hội đồng nghiên cứu Y sinh, Hội đồng nghiên cứu khoa học và thiết kế, Công ty Công nghệ khai thác và Bộ phận kế hoạch doanh nghiệp và Hành chính. Các hội đồng nghiên cứu đã giám sát các nỗ lực nghiên cứu và phát triển trong khu vực nhà nước của Singapore.

Cả 4 bộ phận này đều làm việc nhằm tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ và xúc tiến các hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo, với mục tiêu tạo ra một “Boston của phương Đông”. Ngoài việc hỗ trợ để khởi dựng Học viện Genome của Singapore, Học viện sinh học phân tử và nguyên tử, và Học viện thiết kế sinh học, A STAR đã trao học bổng nghiên cứu và giáo dục cho những sinh viên có tài năng.

Khi tôi gặp Philip Yeo ở Boston, ông đã rất hào hứng và tự hào khi mô tả các sinh viên nhận học bổng khoa học của Trung tâm hiện đang học tại Harvard và MIT, chưa kể số sinh viên học tại các trường Stanford, Columbia và 5, hoặc 6 trường đại học lớn khác ở châu Âu.

Năm 2001, thủ tướng Goh triệu tập Hội đồng Đánh giá Kinh tế (ERC) để đánh giá chính sách kinh tế vĩ mô của Singapore, hỗ trợ và tư vấn ý kiến để Singapore đa dạng hóa hơn nữa nền kinh tế, và phát triển một môi trường doanh nghiệp, sáng tạo và tập trung vào khoa học, môi trường cần có để tạo điều kiện cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Lý Hiển Long, lúc đó là quyền thủ tướng, đã được chọn làm chủ tịch hội đồng.

Vào giữa năm 2002, Hội đồng ERC đã đề nghị chính phủ nên cắt giảm tỷ lệ thuế doanh nghiệp từ 24,5% xuống còn 22% và thuế thu nhập cá nhân từ 26% xuống 22%. Và tới năm 2005 cả hai tỷ lệ này cần giảm tiếp xuống còn 20%. Điều này sẽ khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các ngành kinh tế tri thức.

Thậm chí ngân sách nhà nước cần cắt giảm thêm nữa về thuế cho những người làm nghiên cứu và phát triển. MAS tin rằng việc cắt giảm thuế như vậy sẽ đẩy tăng trưởng GDP thực của Singapore thêm 1,2 % và đầu tư lên tới 10%.

Mặc dù điều này chắc chắn sẽ tạo ra thâm hụt ngân sách, nhưng sự thâm hụt này có thể loại trừ nhờ việc tăng thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ (GST) từ 3% lên 5%. Hội đồng kết luận “GST duy trì động lực làm việc và khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng suất”. “Khi thu nhập người dân tăng lên, thuế thu nhập sẽ đưa họ vào nhóm có thu nhập chịu thuế cao hơn, có nghĩa là thuế sẽ chiếm tỷ lệ lớn hơn trong thu nhập của họ, trong khi đó thì GST lại không chiếm tỷ lệ cao như vậy”. Họ kỳ vọng rằng tỷ lệ thuế hàng hóa và dịch vụ cao hơn sẽ bù đắp được hầu hết phần thâm hụt doanh thu do cắt giảm thuế thu nhập.

Hội đồng cũng đề nghị gia tăng cạnh tranh nhằm kích thích tinh thần doanh nghiệp. Chính phủ buộc phải cởi mở hơn, để tự chuyển đổi mình dần dần từ khu vực phi chiến lược trước đây. Như Lý Hiển Long quan sát: “Chúng ta có thể thay đổi thuế, có thể thay đổi chính sách nhanh chóng, nhưng nếu ta muốn thay đổi cách suy nghĩ, thúc đẩy tinh thần doanh nghiệp hay cải tiến kỹ thuật ….thì đó lại là những thay đổi chúng ta không thể thực hiện chỉ trong một đêm được”.

Quốc gia –Tập đoàn SINGAPORE, Inc.

Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có – giàu có tương đương với mức trung bình của các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD và cao hơn cả Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Italy. Quốc đảo này vẫn tiếp tục là một quốc gia vững mạnh và an toàn ở vùng Đông Nam Á, giữa những nước còn rộng lớn hơn và ở một khía cạnh nào đó, còn bất ổn hơn. Những thành tựu này, quả thực rất đáng kể.

Singapore đã làm được điều này là nhờ kết hợp sự lãnh đạo tài tình, chiến lược phát triển hiệu quả và các thể chế vững chắc của chính phủ. Lý Quang Diệu, người đã dẫn dắt cho sự phát triển của Singapore từ năm 1959 tới năm 1990 là một người kiệt xuất – một nhà lãnh đạo thông minh, trung thực và đầy tham vọng, người đã cống hiến cho cả một thế hệ.

Chiến lược mà ông thực hiện, tăng trưởng kinh tế thúc đẩy bởi xuất khẩu, dựa trên đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất sáng suốt – đưa ra được một chiến lược đúng đắn vào đúng lúc cho một quốc gia không có bất kỳ tài nguyên nào trong một thế giới đang ngày càng toàn cầu hoá.

Nhưng tôi tin tưởng rằng, thành công của Singapore bắt nguồn chủ yếu từ những thể chế đặc biệt của nước này – những thể chế do chính quyền PAP thiết lập. Những thể chế này – những cơ quan thi hành chính sách dưới luật – đã khiến cho Singapore vận hành đúng đắn như bản thân chúng. Những cơ quan này gồm Uỷ ban phát triển nhà ở, Khu công nghiệp Jurong, Quỹ Tiết kiệm Trung Ương, Uỷ ban tiền tệ Singapore, SPRING và A’STAR.

Kết hợp những cơ quan này đã hình thành nên một cấu trúc tổ chức phù hợp gần như hoàn hảo với chiến lược của Singapore. Rất khó để nghĩ rằng một quốc gia khác với một bộ máy thể chế chính phủ tương tự với Singapore lại có thể vận hành tốt như thế.

Trong thực tế, Singapore gần như là ví dụ tốt nhất minh hoạ cho việc một chính phủ có thể hoạt động tốt như thế nào – hơn một phần tư GDP của Singapore và gần như việc ban hành chính sách đều do chính phủ thực hiện.

Quản lí kinh tế vĩ mô hiệu quả là một phần quan trọng của việc này. Chúng ta không thể tìm thấy một nơi nào khác có tỉ lệ tiết kiệm cao và đầu tư hiệu quả cho các toà nhà, cơ sở hạ tầng, các kĩ năng và những thể chế cần thiết cho nền kinh tế tới như vậy.

Tuy nhiên, tương lai với Singapore vẫn còn chưa chắc chắn. Trong khi tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng và phát triển các nguồn lực của ngành y sinh, những thách thức với việc trở thành một nền kinh tế tri thức đối chọi với những quốc gia giàu có và lâu đời hơn như Nhật Bản, châu Âu và Mỹ là rất lớn.

Nhưng Singapore đã thực hiện được cam kết của mình – rằng một quốc gia do chính phủ dẫn dắt vẫn có thể hoạt động hiệu quả như các nước tư bản chủ nghĩa vận hành bởi thị trường. Dù sao, Singapore đã làm tốt trong quá khứ và vì thế là một hình mẫu đáng khâm phục cho những gì có thể. Singapore sẽ vẫn còn được nhìn nhận là hình mẫu đó, nếu quốc gia này tiếp tục phát triển trong tương lai.

Chính sách này sẽ không thể hoàn hảo nếu không có sự quản lí kinh tế vĩ mô hiệu quả. Các chính sách tài chính và tiền tệ của Singapore có sức minh chứng rất lớn. Kể từ năm 1979, chính quyền trung ương nhìn chung được vận hành theo một ngân sách cân bằng, chỉ đôi khi rơi vào thâm hụt và tác dụng kích thích thật sự là rất cần thiết.

Mặc dù có mức thuế thấp, chi tiêu phi vốn cũng được tối thiểu hoá. Chi tiêu cho đầu tư của chính phủ được tài trợ phần lớn bởi các trái phiếu do Quỹ Tiết kiệm Trung Ương mua. Ví dụ vào những năm 1980, chính phủ thường xuyên duy trì mức thặng dư lên tới 20 % ngân sách (25% chi tiêu). Chỉ trong năm 2001, khi đang suy thoái nghiêm trọng, chính phủ mới phải cắt giảm thuế và chịu mức thâm hụt 2.7 tỷ đô la ( vào khoảng 9% chi tiêu hay 1.7% GDP).

Trong khi đó, chính sách tiền tệ được kiểm soát bởi Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), đóng vai trò như một ngân hàng trung ương có quyền kiểm soát các quy định của ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và tỉ giá hối đoái. Thông qua một cơ chế tâp trung tỉ giá, MAS duy trì tỉ lệ lạm phát thấp và giữ tỉ lệ lãi suất ở mức trung bình so với tỉ lệ của nước ngoài. MAS đã cố định tỉ giá hối đoái định lượng thương mại trong một rổ tiện tệ.

Từ đầu những năm 1970, dần dần tăng giá theo đồng đô la Mỹ, từ mức 3.06 lên tới 1.41 vào năm 1996, trước khi lại sụt giá (hiện tại ở mức 1.63 đô la Sing ăn một đô la Mỹ). Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai (1979-1980), tỉ lệ lạm phát được giữ thấp hơn mức 3.4 % và thường dao động trong khoảng 1.5-2%. Tỉ lệ cho vay thường xuyên thấp hơn 7% sau năm 1990-và gần đây thấp hơn nữa, còn 4 %.

Bạn đọc: Anh Minh (Hà Nội)

Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *


4 × nine =

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Post Navigation